Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn năm 2020 - "Cùng hành động để thay đổi thế giới" (Every small action makes a world of difference)

Hình ảnh

Thông tin cần biết

Thống kê truy cập

Online: 5
Truy cập: 3.878.322

Đánh giá hiện trạng công nghệ xử lý chất thải nguy hại tại Việt Nam

Thứ Hai, 02 Tháng Bảy 2012 11:38 SA

Nguyễn Thành Yên, Nguyễn Thượng Hiền, Đỗ Tiến Đoàn, Phan Thanh Giang, Lê Ngọc Lâm Cục Quản lý chất thải và Cải thiện Môi trường, Tổng cục Môi trường Waste Management and Environment Promotion Agency, Vietnam Environment Administration

Nguyễn Thành Yên, Nguyễn Thượng Hiền,
Đỗ Tiến Đoàn, Phan Thanh Giang, Lê Ngọc Lâm

Cục Quản lý chất thải và Cải thiện Môi trường, Tổng cục Môi trường

Waste Management and Environment Promotion Agency, Vietnam Environment Administration

Tóm tắt

Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề bức xúc trước lượng CTNH liên tục gia tăng hiện nay, trong đó có khía cạnh công nghệ xử lý. Nghiên cứu này đưa ra đánh giá tổng quan về hiện trạng công nghệ xử lý CTNH ở Việt Nam, tập trung vào các công nghệ đã được Tổng cục Môi trường cấp phép cũng như giới thiệu xu hướng áp dụng công nghệ xử lý CTNH trong thời gian tới.

Từ khoá: ắc quy chì thải, bóng đèn thải, chất thải điện tử, chất thải nguy hại, chôn lấp, công nghệ xử lý, CTNH, dầu thải, đồng xử lý, lò đốt, lò xi măng, tái chế, xử lý chất thải nguy hại.

Summary

Hazardous waste (HW) management is a very urgent issue with the non-stop increasing generation, including the aspect of treatment technology. This research is to give the overall assessment on current situation of HW treatment technologies in Vietnam, focusing on which have been permitted by Vietnam Environment Administration, as well as the introduction of the trend for technology application in the coming time.

Keywords: cement kiln, co-processing, e-waste, hazardous waste, hazardous waste treatment, HW, incinerator, landfill, recycling, treatment technology, waste oil, waste lamp, waste lead battery.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề tương đối mới và hiện đang bức xúc trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của nước ta trong giai đoạn hiện nay, lượng chất thải cũng liên tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn đối với công tác bảo vệ môi trường. Theo kết quả thống kê năm 2004 [1], tổng lượng CTNH phát thải hàng năm của Việt Nam trong năm 2003 vào khoảng 160 ngàn tấn và sẽ tăng lên khoảng 500 ngàn tấn vào năm 2010. Tuy nhiên, theo báo cáo của 35/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2009, số lượng CTNH phát sinh từ các địa phương này đã vào khoảng gần 700 ngàn tấn [2]. Riêng số lượng CTNH được thu gom, vận chuyển, xử lý bởi các đơn vị hành nghề quản lý CTNH liên tỉnh do Tổng cục Môi trường cấp phép trong năm 2009 là hơn 100 tấn, chỉ đáp ứng được một phần nhỏ tổng lượng phát sinh [3]. Lượng phát thải CTNH lớn như vậy, nếu không được quản lý chặt chẽ và xử lý an toàn như những năm trước đây, là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hơn nữa, sự phát sinh CTNH ở Việt Nam rất đa dạng về nguồn và chủng loại trong khi công tác phân loại tại nguồn còn kém càng dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý và xử lý [3, 7].

Hiện nay, trước sự gia tăng nhanh chóng của CTNH, công tác quản lý, xử lý chưa đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường. Thực tế cho thấy, việc quản lý và xử lý chất thải không an toàn, đặc biệt là các loại CTNH, đã để lại những hậu quả nặng nề về môi trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng như các điểm tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, các bãi rác không hợp vệ sinh, các bãi đổ chất thải của các nhà máy sản xuất…Vì vậy, quản lý và xử lý an toàn chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại (CTNH) nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường và hạn chế các tác động xấu tới sức khỏe con người là một trong những vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Bên cạnh đó, sau một giai đoạn phát triển kinh tế nhanh và tiêu thụ rất nhiều tài nguyên, tái chế chất thải để tiết kiệm tài nguyên đã trở thành một xu thế tất yếu. Để thực hiện tái chế chất thải, cần phải có các công nghệ hợp lý.

Để góp phần vào công tác quản lý, xử lý CTNH, cần có cái nhìn tổng quát về hiện trạng công nghệ xử lý CTNH, kể cả tái chế, đang được sử dụng ở Việt Nam, tập trung vào các cơ sở xử lý CTNH liên tỉnh do Tổng cục Môi trường cấp phép và xu hướng phát triển công nghệ trong thời gian tới.

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp khảo sát hiện trường: khảo sát thực tế tại các cơ sở xử lý chất thải nguy hại do Tổng cục Môi trường cấp phép tại giai đoạn xem xét cấp phép hành nghề quản lý CTNH hoặc thành tra, kiểm tra định kỳ hàng năm.

2.2. Phương pháp thống kê: áp dụng trong việc thống kê các số liệu khảo sát và thu thập được.

2.3. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các hồ sơ đăng ký hành nghề của các cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép và các tài liệu có liên quan.

2.4. Phương pháp chuyên gia: trao đổi, tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong quá trình xem xét cấp phép hành nghề quản lý CTNH và trong các vấn đề cụ thể.

2.5. Phương pháp phân tích: phân tích và đánh giá công nghệ dựa trên các số liệu khảo sát thực tế.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Hiện trạng một số công nghệ xử lý CTNH phổ biến ở Việt Nam [3, 4]

Tính tới tháng 10/2010, Tổng cục Môi trường đã cấp phép hành nghề xử lý, tiêu huỷ CTNH liên tỉnh cho 36 cơ sở. Chưa kể, còn có các cơ sở do các Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố cấp phép. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này không đề cấp đến các cơ sở này do tính không phổ biến và đại diện. Các công nghệ phổ biến hiện nay được tóm tắt trong bảng 1 dưới đây.

Bảng 1. Một số công nghệ xử lý CTNH phổ biến ở Việt Nam

TT Tên công nghệ Số cơ sở áp dụng Số hệ thống công nghệ Công suất phổ biến
1 Lò đốt tĩnh hai cấp 21 26 50 – 200 kg/h
2 Đồng xử lý trong lò nung xi măng 2 2 30 tấn /h
3 Chôn lấp 2 3 15.000 m3
4 Công nghệ hóa rắn (bê tông hóa) 17 17 1 – 5 m3/h
5 Công nghệ xử lý, tái chế dầu thải 13 14 3-5 tấn/ngày
6 Xử lý bóng đèn thải 8 8 0,2 tấn/ngày
7 Xử lý chất thải điện tử 4 4 0,3 – 5 tấn/ngày
8 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải 6 6 0,5 – 200 tấn/ngày

3.1.1. Lò đốt tĩnh hai cấp:

Đây là loại công nghệ phổ biến được sử dụng nhiều ở Việt Nam với tổng số 21 lò đốt, chiếm 21/36 số cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép. Công suất của các lò đốt dao động từ 100-1000 kg/h.

Các lò đốt này đều sử dụng quy trình công nghệ dạng buồng tĩnh theo mẻ và thiêu đốt hai cấp. Lò thường cấu tạo 2 buồng đốt gồm: buồng đốt sơ cấp để đốt cháy các chất thải cần tiêu hủy hoặc hóa hơi chất độc ở nhiệt độ 400-800oC; buồng đốt thứ cấp để tiếp tục đốt cháy hơi khí độc phát sinh từ buồng đốt sơ cấp ở nhiệt độ 1100-1300oC. Một số lò có bổ sung thêm buồng đốt bổ sung sau buồng đốt thứ cấp để tăng cường hiệu quả đốt các khí độc.

Các lò đốt đều trang bị hệ thống xử lý khí thải và trao đổi nhiệt (hạ nhiệt bằng không khí hoặc nước); hấp thụ (phun sương hoặc sục dung dịch kiềm) và có thể có hấp phụ (than hoạt tính).­

Ưu điểm của công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp là công nghệ đơn giản, sẵn có (nhập khẩu hoặc chế tạo trong nước), chi phí đầu tư hợp lý, dễ vận hành phù hợp điều kiện Việt Nam; dải CTNH xử lý rộng (bao gồm cả chất thải y tế).­

Tuy nhiên đốt theo mẻ nên hiệu quả kinh tế không cao, mất thời gian khi khởi động và dừng lò; quy trình kiểm soát còn thủ công hoặc chưa tự động hoá cao nên khó có thể đốt các CTNH đặc biệt độc hại như POP (PCB); không đốt được hoặc đốt không hiệu quả đối với các loại chất thải khó cháy như bùn thải.\

Để khắc phục, các lò đốt cần nghiên cứu nâng cấp một số đặc điểm như bổ sung biện pháp lấy tro trong quá trình đốt để kéo dài thời gian vận hành, lắp hệ thống quan trắc tự động liên tục, tăng cường tự động hoá hệ thống nạp CTNH và điều khiển …

3.1.2. Đồng xử lý trong lò nung xi măng:

Công nghệ này hiện được sử dụng bởi hai cơ sở sản xuất xi măng là nhà máy tại Kiên Giang của Công ty TNHH Xi măng Holcim Việt Nam và nhà máy tại Hải Dương của Công ty TNHH Sản xuất vật liệu xây dựng Thành Công.

Do đặc thù của công nghệ sản xuất xi măng, nên có thể sử dụng CTNH làm nguyên liệu, nhiên liệu bổ sung cho quá trình sản xuất xi măng, chất thải được tiêu huỷ đồng thời trong lò nung xi măng ở nhiệt độ cao (trên 1300oC), xỉ của quá trình tiêu huỷ được làm nguyên liệu sản xuất xi măng. Lò nung xi măng có cấu tạo gồm có lò nung hình trụ có khả năng quay quanh trục để đảo trộn các vật liệu khi nung, tỉ lệ nạp tổng cộng là 30 tấn/giờ cho các loại chất thải (lò nung xi măng của Công ty TNHH Xi măng Holcim Việt Nam).

Do quá trình nung xi măng thường phát sinh nhiều khí thải và bụi nên để xử lý khí thải, các nhà máy sản xuất xi măng thường đầu tư hệ thống xử lý khí thải hiện đại để kiểm soát nguồn thải này. Hệ thống xử lý khí thải bao gồm các công đoạn như: lọc bụi thô bằng xyclon, sau đó lọc bụi tinh bằng tĩnh điện hoặc túi vải, sau đó sử dụng phương pháp hấp thụ các khí độc bằng dung dịch kiềm dưới dạng phun sương.

Lò nung xi măng có môi trường hoạt động ở nhiệt độ cao nên hiệu suất tiêu huỷ cao; xử lý được nhiều loại CTNH; công suất lớn; có hiệu quả kinh tế do tiết kiệm nguyên, nhiên liệu. Đặc biệt là có tiềm năng xử lý được các loại chất nguy hại đặc biệt như PCB.

Do xử lý trên cùng hệ thống sản xuất xi măng nên tiết kiệm được chi phí đầu tư về cơ sở hạ tầng.

Tuy nhiên để đồng xử lý CTNH trong lò nung xi măng đòi hỏi công nghệ sản xuất hiện đại (lò quay khô); công suất xử lý CTNH phụ thuộc vào quá trình sản xuất xi măng và tỷ lệ phối nạp; quá trình nạp chất thải vào lò rất phức tạp;

Để khắc phục, các lò nung clanke cần đầu tư các hệ thống nạp riêng cho từng nhóm CTNH; cần kiểm soát CTNH phối nạp để đảm bảo chất lượng xi măng và nâng công suất xử lý. Do vậy công nghệ xi măng của Thành Công chưa hiện đại nên chỉ cấp phép được một số loại CTNH nhất định.

Hình 1: Hệ thống lò nung xi măng (tiêu hủy CTNH) và bộ phận nạp CTNH dạng lỏng của Công ty TNHH xi măng Holcim Việt Nam

3.1.3. Chôn lấp CTNH

Công nghệ này hiện nay có hai đơn vi sử dụng là Công ty nhà nước một thành viên môi trường đô thị Hà Nội và Công ty nhà nước một thành viên môi trường đô thị Bình Dương, với dung tích của mỗi bể chứa từ 10.000 – 15.000 m3.

Bãi chôn lấp CTNH được thiết kế theo quy định tại Tiêu chuẩn xây dựng TCXDVN 320:2004 về Bãi chôn lấp chất thải nguy hại – Tiêu chuẩn thiết kế. Việc vận hành bãi chôn lấp CTNH thực hiện trên cơ sở Hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 07 tháng 8 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường theo hướng dẫn.

Ưu điểm của bãi chôn lấp CTNH có khả năng cô lập các CTNH chưa có khả năng xử lý bằng công nghệ khác; công suất lớn; CTNH tương lai có thể đào lên để xử lý nếu có công nghệ phù hợp.

Tuy nhiên phương pháp này tốn diện tích; CTNH không được xử lý triệt để; cần giám sát lâu dài sau khi đóng hầm; khu chôn lấp CTNH cần đảm bảo các điều kiện ngặt nghèo về diện tích, khoảng cách với các khu dân cư theo TCXDVN 320: 2004 của Bộ xây dựng.

Để khắc phục, đối với phương pháp chôn lấp cần tiến hành già soát và chỉnh sửa các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành có liên quan nêu trên để phù hợp với điệu kiện thực tế hơn, dễ áp dụng.

3.1.4. Hóa rắn (bê tông hóa)

Do có nhiều ưu điểm nên công nghệ này được sử dụng rất phổ biến, có 17/36 tổng số các cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép có trang bị hệ thống hoá rắn, công suất trung bình từ 1 – 5 m3/h.

Đặc điểm của công nghệ là sử dụng phụ gia xi măng để đóng rắn các CTNH vô cơ như tro xỉ lò đốt, xỉ của các quá trình tinh luyện kim loại,…,tránh phát tán các thành phần nguy hại ra môi trường. Hiện nay đang phổ biến hai công nghệ hoá rắn là hoá rắn có nén ép cưỡng bức (sử dụng máy ép thuỷ lực để ép chặt cốt liệu bê tông như sản xuất gạch block) và hoá rắn thông thường (đổ bê tông). Trong đó phương pháp hoá rắn có nén ép cưỡng bức có ưu thế hơn do khả năng lưu giữ CTNH tốt hơn. Cấu tạo của hệ thống hoá rắn gồm có máy trộn bê tông (để trộn đều các CTNH với xi măng, cát, sỏi và nước) và máy ép khuân hoặc các khuân đúc.

Công nghệ hóa rắn có ưu điểm là thiết bị, công nghệ đơn giản, sẵn có (có thể tự lắp đặt, chế tạo), dễ vận hành; có hiệu quả kinh tế vì có thể tận dụng sản xuất vật liệu xây dựng (gạch block, tấm đan…).

Tuy nhiên công nghệ hóa rắn chỉ xử lý an toàn đối với CTNH vô cơ, khả năng ổn định CTNH trong khối rắn thay đổi theo từng loại CTNH.

Để khắc phục, các hệ thống hoá rắn cần nghiên cứu, kiểm soát chặt chẽ và loại CTNH đem hoá rắn (đảm bảo CTNH vô cơ); cần giám sát sản phẩm đầu ra để đảm bảo không vượt ngưỡng CTNH và sử dụng hết sản phẩm đầu ra, tránh việc làm phát sinh thêm một khối lượng chất thải rắn cần phái kiểm soát.

3.1.5. Tái chế dầu thải

Hiện tại, có 13/36 tổng số các cơ sở hành nghề xử lý do Tổng cục môi trường cấp phép đầu tư công nghệ tái chế dầu,  về xử lý dầu thải có một số công nghệ tái chế dầu như: chưng cất dầu (chưng phân đoạn hay còn gọi chưng nhiều bậc và chưng đơn giản hay chưng một bậc); phân ly dầu nước bằng phương pháp cơ học (ly tâm) và bằng nhiệt, trong đó công nghệ chưng cất được sử dụng phổ biến vì có hiệu quả kinh tế cao. Công suất trung bình từ 3 – 5 tấn/ngày.

Trong thực tế, phần lớn các cơ sở sử dụng công nghệ chưng đơn giản để thu hồi các cấu tử dầu (nguyên lý là đun sôi sau đó ngưng tụ để thu hồi các cấu tử dầu, cặn rắn được tách ra và lấy ra ở đáy nồi chưng). Hiện nay có một số cơ sở đang đầu tư công nghệ chưng phân đoạn (chưng nhiều bậc) để tái chế dầu, đây là công nghệ hiện đại sử dụng để sản xuất các sản phẩm xăng dầu từ dầu thải. Về cơ bản chưng nhiều bậc giống với chưng đơn giản, khác ở chỗ dựa vào nhiệt độ sôi khác nhau của các hydro cacbon có trong dầu thải, kết hợp tuần hoàn (hồi lưu) dòng sản phẩm lỏng khi đó sẽ tách triệt để các cấu tử hydro cacbon có nhiệt độ sôi khác nhau và thu được các phân đoạn sản phẩm dầu có chất lượng cao như: xăng, dầu diezen,…

Về cấu tạo của công nghệ chưng đơn giản gồm có lò gia nhiệt (đốt cấp nhiệt trực tiếp cho nồi chưng), nồi chưng (nồi chứa dầu thải), hệ thống ngưng tụ hơi dầu và hệ thống xử lý khí thải. Còn cấu tạo của công nghệ chưng nhiều bậc gồm hệ thống cấp nhiệt (lò hơi, sử dụng hơi nước quá nhiệt để cáp nhiệt cho tháp chưng cất), tháp chưng cất dạng đĩa lỗ có ỗng chảy truyền hoặc tháp đĩa chóp, hệ thống hồi lưu dòng sản phẩm lỏng và hệ thống xử lý khí thải lò hơi.

Về nguyên lý cấu tạo và cơ chế hoạt động của hệ thống xử lý khí thải trong chưng cất dầu nhìn chung giống với hệ thống xử lý khí thải lò đốt.

Nhìn chung, đối với công nghệ chưng đơn giản có ưu điểm trang thiết bị đơn giản (có thể tự chế tạo, lắp đặt), dễ vận hành, đầu tư thấp, còn công nghệ chưng phân đoạn, sản phẩm xăng dầu thu được có chất lượng và sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ, tiết kiệm nguồn tài nguyên, xử lý triệt để dầu thải. Cả hai công nghệ này đều có hiệu quả kinh tế cao.

Tuy nhiên, bên canh những ưu điểm, còn có một số nhược điểm như đối với công nghệ chưng đơn giản: khó xử lý triệt để vì phát sinh cặn rắn có chứa hắc ín, sản phẩm có chất lượng hạn chế do rất khó điều chỉnh chế độ cấp nhiệt thích hợp cho nồi chưng vì cấp nhiệt trực tiếp, sản phẩm dầu thu được từ quá trình chưng đơn giản chủ yếu dùng đốt lò. Đối với công nghệ chưng phân đoạn thì chi phí đầu tư lớn, vận hành phức tạp.

Đê khắc phục, đối với công nghệ chưng đơn giản cần bổ sung hệ thống kiểm soát nhiệt độ, đảm bảo khống chế được khoảng nhiệt độ thích hợp tránh hiện tượng khê nồi và có thể gây cháy nổ.

Hình 2: Hệ thống chưng phân đoạn Công ty cổ phần hoá lọc dầu Long Hưng

3.1.6. Xử lý bóng đèn thải

Hiện nay có 8/36 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép có hệ thống xử lý bóng đèn thải.

Trong bóng đèn có chứa nhiều loại chất thải khác nhau như bột thải, hơi thủy ngân, thủy tinh, kim loại. Do đó việc xử lý Hg từ bóng đèn thải là nhiệm vụ bắt buộc trong quá trình xử lý tái chế. Về nguyên tắc các quá trình xử lý bắt đầu bằng việc nghiền nhỏ bóng đèn và tách bột huỳnh quang có chứa hợp chất phốtpho. Thuỷ ngân được hấp phụ vào các cột than hoạt tính hoặc hấp thụ bằng bột lưu huỳnh. Cấu tạo của hệ thống xử lý bóng đèn thải gồm có bộ phận nghiền (nghiền nhỏ thuỷ tinh), thiết bị lọc bụi túi vải (thu hồi bột huỳnh quang), thiết bị hấp thụ hơi thuỷ ngân và quạt hút.

Công nghệ này có ưu điểm là chi phí đầu tư trang thiết bị hợp lý, dễ vận hành, sau khi phân tách riêng bột huỳnh quang, thủy tinh có thể dùng làm nguyên liệu trong sản xuất xi măng hoặc tái sử dụng thủy tinh sạch.

Tuy nhiên, sau khi xử lý bóng đèn thải, quá trình hấp thụ hơi thuỷ ngân có trong bóng đèn thải sẽ tạo ra chất thải mới cần xử lý là muối thuỷ ngân.

Để khắc phục, sau khi chất hấp thụ bị bão hoà, thu hồi lại và đem đến các đơn vị có năng lực (như các Viện nghiên cứu môi trường) để giải hấp thu hồi lại thuỷ ngân và tái sử dụng lại chất hấp thụ.

Hình 3: Công nghệ xử lý bóng đèn thải của Công ty cổ phần xử lý, tái chế chât thải công nghiệp Hòa Bình

3.1.7. Xử lý chất thải điện tử

Đối với công nghệ xử lý chất thải điện tử, hiện nay có 4/36 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ xử lý này, công suất trung bình tư 0,5 – 5 tấn/ngày.

Hiện nay, để xử lý chất thải điện tử đầu tiên phải thực hiện biện pháp phá dỡ thủ công để phân tách từng loại linh kiện điện tử, sau đó tùy vào từng loại linh kiện sẽ có các công nghệ xử lý tương ứng như nghiền nhỏ sau đó phân tách hoặc thiêu đốt để thu hồi kim loại,…Nguyên lý cấu tạo gồm băng chuyền phá dỡ (phá dỡ thủ công) và máy nghiền, máy tuyển rung để phân loại riêng kim loại và nhựa, máy tách vỏ dây điện,…

Ưu điểm của công nghệ này là tận thu được các kim loại quý như vàng, bạc, đồng nhôm,… có trong các thiết bị điện tử thải; công nghệ đơn giản; dễ vận hành.

Tuy nhiên, do có công đoạn phá dỡ thủ công nên hiệu quả kinh tế chưa cao và ảnh hưởng sức khỏe của công nhân do phải tiếp xúc trực tiếp với chất thải.

Để khắc phục, cần phải cơ giới hóa tất cả các công đoạn trong xử lý chất thải điện tử nhằm bảo vệ sức khỏe công nhân tránh tiếp xúc trực tiếp với chất thải.

Hình 4: Công nghệ xử lý bản mạch điện tử và phâ loại thu hồi kim loại và nhựa của Công ty cổ phần xử lý, tái chế chât thải công nghiệp Hòa Bình

3.1.8. Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải

Hiện nay, có 6/36 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ xử lý này, công suất trung bình tư 0,5 – 200 tấn/ngày.

Tái chế ắc chì quy thải là một trong những biện pháp tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, cùng với sự phát triển của nền kinh tế lượng ắc quy chì thải ngày một tăng và việc xử lý không an toàn đối với chất thải này đã và đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người và môi trường. Chính vì vậy, hiện nay trên thực tế đang sử dụng các công nghệ tái chế từ đơn giản (thô sơ) đến hiện đại.

Nguyên lý của công nghệ tái chế ắc quy chì thải là đầu tiên  trung hòa dung dịch chất điện phân (dung dịch axit), sau đó phá dỡ phân loại riêng bản cực chì và vỏ cách (nhựa PP). Hiện nay có một số đơn vị đã đầu tư và đưa vào sử dụng công nghệ hiện đại để tái chế ắc quy, toàn bộ quy trình xử lý được tự động hóa, từ khâu nạp liệu đến khâu cuối cùng là phân tách riêng chì và vỏ nhựa, nguyên lý hoạt động của công nghệ như sau: bình ắc quy (có cả dung dịch axit) được đưa vào máy nghiền đồng thời có bổ sung dung dịch kiềm (sô đa) để trung hòa, sau đó hỗn hợp sau nghiền được đưa tới hệ thống phân tách bằng nước, nhựa có tỷ trọng bé nổi lên trên, còn chỉ tỷ trọng lớn chìm xuống dưới và được vớt ra bởi gàu chuyên dụng.

Công nghệ này có ưu điểm dễ vận hành, hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm được tài nguyên do thu hồi được nguyên liệu chì.

Tuy nhiên, do quá trình tái chế ắc quy chì thải luôn đi kèm với việc tinh luyện chì nên nếu không có biện pháp kiểm soát tốt khí thải từ quá trình tinh luyện sẽ gây ô nhiễm môi trường, ngoài ra trong quá trình phá dỡ ắc quy có phát sinh hơi axit, các bơi khí thải này sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe của công nhân và môi trường.

Để khắc phục, các hệ thống tái chế ắc quy chì thải cần đầu tư hệ thống thu hồi và xử lý hơi axit và khí thải từ quá trình tinh luyện chì và các thiết bị giám sát môi trường tự động đối với hệ thống xử lý khí thải.

Hình 5: Hệ thống tái chế ắc quy chì thải của Công ty TNHH Thye Ming (Việt Nam)

3.2. Các công nghệ khác

Ngoài các công nghệ trên, hiện nay các cơ sở xử lý CTNH tại Việt Nam còn sử dụng các loại công nghệ khác đối với từng loại CTNH đặc thù khác như  công nghệ súc rửa và tái chế thùng phuy, công nghệ tái chế dung môi thải.

3.3. Hiệu quả xử lý và môi trường của các công nghệ đã được cấp phép

Theo báo cáo quản lý CTNH, báo cáo giám sát môi trường của các cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép cũng như kết quả thanh tra, kiểm tra những năm vừa qua, hầu hết các công nghệ xử lý CTNH đã được cấp phép đều đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành, đảm bảo hiệu quả xử lý cam kết khi đăng ký hành nghề, phát thải đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường [4].

Tuy nhiên đây là kết quả do các cơ sở tự giám sát hoặc kết quả giám sát khi có các đoàn thành tra kiểm tra nên cũng chưa phản ánh đầy đủ được vấn đề. Điều này phụ thuộc vào ý thức tự giác chấp hành của các cơ sở. Nhưng ít nhất, điều này cũng khẳng định là các công nghệ hiện tại đã được cấp phép là đảm bảo được hiệu quả xử lý cũng như môi trường nếu được vận hành đúng theo thiết kế và có sự giám sát chặt chẽ.

3.4. Xu thế áp dụng một số công nghệ mới

3.4.1. Lò đốt quay:

Đối với công nghệ thiêu đốt, hiện nay trên thế giới cụ thể như Nhật Bản đang sử dụng công nghệ đốt dạng buồng quay vì công nghệ này có ưu điểm có thể đốt các loại chất thải khó cháy như bùn thải. Nhưng nhược điểm của công nghệ này là chi phí đầu tư lớn và phát sinh nhiều bụi nên cần phải đầu tư hệ thống lọc bụi túi vải hoặc lọc bụi tĩnh điện. Hiện nay Việt Nam đang có một số cơ sở nghiên cứu lắp đặt lò đốt quay nhưng đều chưa đến giai đoạn được cấp phép.

Hình 6: Công nghệ lò đốt quay của Nhật Bản dùng xử lý các bùn thải có chứa dầu

3.4.2. Lò plasma:

Công nghệ lò đốt plasma sử dụng nhiệt độ rất cao để phá huỷ hoàn toàn các chất hữu cơ, chuyển hoá thành các khí tổng hợp và tạo ra xỉ là thuỷ tinh với khói lượng xỉ tạo ra là ít nhất so với các công nghệ đốt khác [5]. Hiện nay, tại Việt Nam có một sô cơ sở đang tiến hành lập dự án lắp đặt lò đốt plasma để xử lý chất thải. Tuy nhiên, đa phần dữ liệu về hiệu quả và vận hành của công nghệ plasma đều do các công ty cung cấp công nghệ đưa ra và chưa được kiểm chứng thực tế trong điều kiện của Việt Nam.

3.4.3. Lò đốt tầng sôi:

Đây là công nghệ đốt có hiệu suất tiết kiệm năng lượng cao hoặc tái sử dụng năng lượng do chất thải tạo thành. Tro xỉ tại thành trong hệ thống này không chứa các chất dễ cháy, đồng nhất và ổn định, có thể sử dụng làm vật liệu sản xuất gạch block. Tuy nhiên, lò đốt tầng sôi có tốc độ mài mòn bề mặt đốt và truyền nhiệt rất cao, do đó tính kinh tế của nó kém hơn so với lò đốt thông thưòng.

Hiện nay, tại Việt Nam có Công ty cổ phần môi trường đô thị và công nghiệp Đại Đồng thuộc URENCO đang tiến hành lắp đặt lò đốt tầng sôi để xử lý chất thải. Tuy nhiên, Công ty chưa tiến hành các thủ tục đăng ký hành nghề xử lý CTNH cho lò đốt này.

Còn một số công nghệ xử lý khác nhìn chung cũng giống với các công nghệ đã và đang được sử dụng ở Việt Nam như: công nghệ tái chế ắc quy chì thải, công nghệ chưng phân đoạn tái chế dầu thải,…

3.4.4. Bể đóng kén

Bể được thiết kế vách và đáy bằng bê tông chống thấm, kết cấu cốt thép bền vững đặt trên nền đất được gia cố để đảm bảo tránh sụt lún gây nứt gãy, rò rỉ, thẩm thấu theo đúng quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về xây dựng. Sử dụng bể đóng kén có thể xử lý được nhiều loại chất thải khác nhau, dễ sử dụng, chi phí đầu tư thấp.

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có cơ sở nào áp dụng công nghệ này để xử lý chât thải. Đây là công nghệ có triển vọng phát triển vì có hiệu quả trong việc lưu giữ an toàn CTNH mà hiện tại chưa xử lý được hoặc xử lý không hiệu quả bằng phương pháp khác trong điều kiện của Việt Nam.

4. KẾT LUẬN

Nền công nghệ xử lý CTNH của Việt Nam trong những năm vừa qua, đặc biệt sau khi có sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường 2005 và các văn bản dưới Luật như Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại và Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục chất thải nguy đã có những bước phát triển đáng kể. Các công nghệ hiện có của Việt Nam còn chưa thực sự hiện đại và ở quy mô lớn những đã đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý CTNH của Việt Nam. Tuy nhiên để thực sự đảm bảo công tác quản lý CTNH đạt yêu cầu, cần phát triển công nghệ xử lý CTNH tại Việt Nam cả về chất lượng và số lượng. Bên cạnh đó cần phải tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo các công nghệ đã được cấp phép hoạt động tuân thủ đúng quy định, đạt các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường.

Nghiên cứu và phát triển công nghệ xử lý CTNH vẫn là vấn đề đau đầu của các nhà quản lý và nhà khoa học về môi trường. Đối với từng loại CTNH đều phải có một quy trình xử lý khác nhau để đảm bảo an toàn cho môi trường xung quanh. Nhưng để lựa chọn công nghệ xử lý chất thải phù hợp điều kiện của Việt Nam không phải dễ, do đó cần thiết phải xây dựng và ban hành các bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật… làm cơ sở khoa học cho công nghệ xử lý chất thải.

Ngoài ra, để công tác bảo vệ môi trường thực hiện hiệu quả, Nhà nước không chỉ quan tâm đến vấn đề quản lý, thanh tra, xử phạt mà cần thiết phải chú trọng đến vấn đề quản lý thị trường và quy hoạch công nghệ xử lý CTNH. Có như vậy mới có thể tránh cho doanh nghiệp những rủi ro không đáng có, đồng thời nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường của các đơn vị sản xuất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cục Bảo vệ môi trường, Báo cáo hiện trạng môi trường, 2004.

2. Các báo cáo về công tác quản lý chất thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế của Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 2009.

3. Các báo cáo quản lý chất thải nguy hại, báo cáo giám sát môi trường định kỳ của các chủ xử lý, tiêu huỷ chất thải nguy hại, 2009.

4. Các bộ hồ sơ đăng ký hành nghề xử lý, tiêu hủy CTNH lưu tại Tổng cục Môi trường.

5. Công ty thương mại dịch vụ xây dựng Ngân Thành, Báo cáo dự án đầu tư, 2009.

6. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Danh mục chất thải nguy hại, ban hành kèm theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 26 tháng 12 năm 2006.

7. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Ngưỡng chất thải nguy hại, QCVN 07:2009/BTNMT.

Các tin khác
Đăng nhập
Tên đăng nhập:
Mật khẩu đăng nhập:
Map
MapBox
Tư vấn trực tuyến
SKYPE

Bộ phận kỹ thuật

Bộ phận kinh doanh

khám phá
Quảng cáo
VILAS 246
Vim